Rủi ro kinh doanh tạm nhập tái xuất

Tạm nhập tái xuất là gì?

Tạm nhập tái xuất bản chất là hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài và xuất khẩu chính hàng hóa đó thay vì bán trong nước. Hàng hóa tạm nhập tái xuất cần được làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam và thủ tục xuất khẩu hàng hóa ra khỏi Việt Nam.

Bản chất của tạm nhập tái xuất là hoạt động mua và bán hàng hóa vì vậy kinh doanh tạm nhập tái xuất dựa trên cơ sở hợp đồng mua hàng hóa và hợp đồng bán hàng hóa. Hợp đồng mua hàng hóa được ký giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân nước xuất khẩu, hợp đồng bán hàng hóa được ký giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân nước nhập khẩu. Cần lưu ý rằng hợp đồng mua hàng không nhất thiết phải có trước hợp đồng bán hàng, nhờ đó thương nhân có thể tận dụng cơ hội kinh doanh của mình. Thông thường, hàng hóa tạm nhập tái xuất có thời hạn tái xuất tối đa là 90 ngày.

kho tạm nhập tái xuất
Ảnh: Kho ngoại quan

Điều kiện kinh doanh tạm nhập tái xuất ở Việt Nam

Ngoài những điều kiện về hàng hóa được phép kinh doanh hoạt động tái xuất, doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập tái xuất phải đáp ứng được các điều kiện với từng loại mặt hàng. Cụ thể là các điều kiện về số năm thành lập, đã có hoạt động xuất nhập khẩu, có số tiền kí quỹ, đặt cọc tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng chi nhánh cấp tỉnh, các điều kiện về kho bãi…được quy định tại Mục 2, Chương 2, Thông tư 05/2014/BCT. Các doanh nghiệp không đủ điều kiện có thể ủy thác kinh doanh tạm nhập tái xuất cho một bên thứ hai (có đủ điều kiện).

Rủi ro của hoạt động tạm nhập tái xuất

Không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất mang lại, bằng chứng là có ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam tham gia kinh doanh lĩnh vực này. Tuy nhiên, kinh doanh tạm nhập tái xuất cũng tiềm ẩn không ít rủi ro cho doanh nghiệp. Thông thường, doanh nghiệp tạm nhập tái xuất đứng trước rủi ro về giá, nguyên nhân là do hợp đồng bán có thể phát sinh trước hợp đồng mua.

Ngoài ra, thời hạn tái xuất bắt buộc có thể gây ra sự chèn ép về thủ tục và về giá của bên nhập khẩu hàng tái xuất đối với doanh nghiệp. Các rủi ro khác có thể kể đến đó là những chi phí phát sinh khi hàng hóa không đúng với khai báo, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, hàng hóa không thể tái xuất cần xử lý…được quy định tại Khoản 4, Điều 15, Chương 2, Thông tư 05/2014/BCT.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *